top of page

Chuyên gia, nhà kinh tế tìm giải pháp đảm bảo an ninh nhiên liệu

Các chuyên gia dầu mỏ và nhà kinh tế đã cùng nhau ngồi lại vào đầu tuần này trong một hội thảo để thảo luận về sự cần thiết phải đảm bảo an ninh nhiên liệu cho sản xuất điện ở Việt Nam do sản lượng khai thác khí đốt trong nước ngày càng giảm.

Chuyên gia, nhà kinh tế tìm giải pháp đảm bảo an ninh nhiên liệu
Chuyên gia, nhà kinh tế tìm giải pháp đảm bảo an ninh nhiên liệu

Đầu tuần này, các chuyên gia dầu mỏ và các nhà kinh tế đã triệu tập tại một hội thảo để thảo luận về tầm quan trọng của việc duy trì an ninh nhiên liệu cho sản xuất điện ở Việt Nam trong bối cảnh sản lượng từ các mỏ khí đốt quốc gia đang giảm dần.


Trong sự kiện do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và PV Gas tổ chức tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, ông Huỳnh Quang Hải, Phó Tổng Giám đốc PV GAS, nhấn mạnh sản lượng khí trong nước hàng năm giảm khoảng 10%, nguyên nhân là do việc khai thác khí kéo dài. lĩnh vực.


Xu hướng giảm này được dự đoán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt khí đốt trong nước để sản xuất điện trong tương lai.


Hội thảo cho thấy nhu cầu khí sinh hoạt hàng năm trong sản xuất điện dao động từ 5 đến 6 tỷ mét khối. Hiện nay, chỉ có khoảng 3 tỷ mét khối được cung cấp cho các nhà máy điện. Sự thiếu hụt này đòi hỏi phải tạm thời ngừng cung cấp khí đốt cho những người tiêu dùng khác khi hệ thống phát điện yêu cầu công suất khí cao hơn.


Tình trạng thiếu khí để sản xuất điện ở Việt Nam càng trầm trọng hơn do sự chậm trễ trong việc vận hành các dự án như nhà máy điện Nhơn Trạc 3&4, nơi có nhu cầu khí khoảng 1 triệu tấn/năm (tương đương 1,2 tỷ m3 khí/năm). năm). Trong khi đó, dự án điện khí Long An 1 và 2 cũng mới nhận được thẩm định thiết kế cơ sở của Bộ Công Thương.


Ông đề cập, việc nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) để bù đắp lượng khí thiếu hụt trong nước được coi là giải pháp thay thế tất yếu.


Ngoài ra, việc thiếu cơ chế chính sách giá LNG và thiếu thẩm quyền phê duyệt hợp đồng mua khí LNG là những trở ngại chính trong việc phát triển các dự án LNG nhập khẩu. Ngoài ra, chi phí vận chuyển và lưu trữ liên quan đến nhập khẩu LNG cũng đặt ra nhiều thách thức hơn.


Trước đây, việc phát triển khí đốt trong nước ở Việt Nam, như mỏ khí Nam Côn Sơn, được hưởng lợi từ các quy định rõ ràng về giá khí và hợp đồng bao tiêu. Điều này đã tạo nền tảng vững chắc cho việc phát triển các mỏ khí trong nước. Tuy nhiên, tình hình lại khác đối với LNG nhập khẩu. Cơ chế định giá LNG nhập khẩu vẫn chưa được thiết lập, gây khó khăn cho việc xác định tính khả thi về mặt kinh tế của các dự án điện sử dụng LNG.


Hơn nữa, việc nhập khẩu LNG còn phát sinh thêm chi phí, bao gồm chi phí vận chuyển để đưa LNG từ nước ngoài về Việt Nam và cơ sở hạ tầng cần thiết để lưu trữ LNG ở nhiệt độ cực thấp.


Lấy ví dụ, dự án điện khí Nhơn Trạch 3&4 gặp khó khăn trong việc đàm phán hợp đồng mua bán điện (PPA) giữa PV Power và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Một trong những vấn đề trọng tâm liên quan đến cam kết hợp đồng mua bán điện hàng năm của Tập đoàn Điện lực Việt Nam.


Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng đã có báo cáo với Bộ Công Thương giá LNG hiện cao gấp 1,5 lần giá khí trong nước. Sự chênh lệch giá đáng kể này khiến chi phí phát điện từ LNG nhập khẩu quá cao. Kéo theo đó, dự án Nhơn Trạch 3 & 4 gặp khó khăn khi vận hành trên thị trường điện. Hơn nữa, giá LNG nhập khẩu cao cũng ảnh hưởng tới kế hoạch mua điện tổng thể của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, tạo thách thức cho cân đối tài chính.


Theo ông Huỳnh Quang Hải, PV GAS đã có những bước đi nhằm đáp ứng nhu cầu LNG cho sản xuất điện sạch tại Việt Nam. Họ đã đưa giai đoạn 1 của kho Thị Vải LNG tại Bà Rịa-Vũng Tàu với công suất 1 triệu tấn.


PV GAS hiện đang chuẩn bị triển khai giai đoạn 2 của dự án nhằm nâng công suất kho LNG Thị Vải lên 3 triệu tấn. Việc mở rộng này nhằm đáp ứng nhu cầu khí LNG cần thiết cho sản xuất điện sạch như quy định trong Quy hoạch phát triển điện lực VIII đã được phê duyệt.


Cũng tại tọa đàm, TS. Ngô Trí Long, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường và giá cả, Bộ Tài chính, nhấn mạnh Chính phủ cần giải quyết một số vấn đề liên quan đến các dự án điện khí LNG trong nước. Hoàn thiện chính sách, cơ chế khuyến khích là giải pháp chủ yếu. Các biện pháp này cần bao gồm chính sách ưu đãi thuế, cơ chế hỗ trợ vốn vay và quy định rõ ràng về quá trình phê duyệt và xây dựng các dự án LNG.


Chủ đầu tư dự án nhà máy điện Nôm Trạch 3&4 cho biết, đây là dự án điện sử dụng LNG đầu tiên trong nước và chưa từng có hợp đồng bao tiêu sản lượng loại dự án này. Họ cho rằng cần thực hiện một số biện pháp nhất định để thúc đẩy đầu tư vào các dự án điện LNG tại Việt Nam, chẳng hạn như sớm ban hành khung giá phát điện dành riêng cho các dự án LNG.


Nhiều chuyên gia cho rằng, sự vào cuộc của cơ quan quản lý nhà nước là rất quan trọng. Các cơ quan này có thể đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các cơ chế chính sách rõ ràng để thúc đẩy tiêu thụ LNG tại Việt Nam.


Theo VietNamNews



Theo dõi tiếp các bài viết của chúng tôi tại www.finverse.vn

Comments


bottom of page