top of page

Chỉ số khối lượng Tích cực (PVI): Tổng quan, ví dụ và công thức

Chỉ số Khối lượng Tích cực (PVI) là gì?


Chỉ số khối lượng tích cực (PVI) là một chỉ báo được sử dụng trong phân tích kỹ thuật cung cấp tín hiệu về sự thay đổi giá dựa trên sự gia tăng tích cực về khối lượng giao dịch. PVI giúp đánh giá sức mạnh xu hướng và có khả năng xác nhận sự đảo chiều giá và có thể được tính toán cho các chỉ số thị trường phổ biến cũng như được sử dụng để phân tích biến động của từng chứng khoán.


Minh họa chỉ số PVI
Minh họa chỉ số PVI

BÀI HỌC CHÍNH

  • Chỉ số khối lượng dương (PVI) dựa trên biến động giá tùy thuộc vào việc khối lượng hiện tại có cao hơn giai đoạn trước hay không.

  • Nếu khối lượng không tăng từ kỳ này sang kỳ khác thì PVI vẫn giữ nguyên.

  • PVI thường được hiển thị dưới dạng đường trung bình động (để giúp làm trơn tru các chuyển động của nó) và được so sánh với mức trung bình một năm (255 ngày).

  • Các nhà giao dịch theo dõi mối quan hệ của đường trung bình động PVI 9 kỳ (hoặc độ dài MA khác) so với đường trung bình động PVI 255 kỳ.

  • Khi PVI cao hơn mức trung bình một năm, điều đó giúp xác nhận sự tăng giá. Khi PVI giảm xuống dưới mức trung bình một năm, điều đó sẽ giúp xác nhận việc giảm giá.

Cách tính chỉ số khối lượng tích cực (PVI)


  1. Nếu khối lượng hôm nay lớn hơn khối lượng ngày hôm qua thì hãy sử dụng công thức PVI.

  2. Nhập dữ liệu giá cho ngày hôm nay và ngày hôm qua, cùng với tính toán PVI trước đó.

  3. Nếu không có phép tính PVI trước đó thì hãy sử dụng cách tính giá của ngày hôm nay cũng như cách tính PVI trước đó.

  4. Nếu khối lượng hôm nay không lớn hơn khối lượng ngày hôm qua thì PVI vẫn giữ nguyên cho ngày hôm đó.

Hiểu chỉ số khối lượng tích cực (PVI)


PVI thường được theo sau cùng với tính toán chỉ số khối lượng âm (NVI). Chúng cùng nhau được gọi là chỉ báo khối lượng tích lũy giá.


PVI và NVI được Paul Dysart phát triển lần đầu tiên vào những năm 1930 bằng cách sử dụng các chỉ báo độ rộng thị trường như đường tăng-giảm. Các chỉ số PVI và NVI trở nên phổ biến sau khi được đưa vào cuốn sách năm 1976 có tựa đề Logic thị trường chứng khoán của Norman Fosback, người đã mở rộng ứng dụng của chúng sang chứng khoán riêng lẻ.


Nghiên cứu của Fosback, trong khoảng thời gian từ 1941 đến 1975, cho thấy rằng khi PVI ở dưới mức trung bình một năm thì có 67% khả năng xảy ra thị trường giá xuống. Nếu PVI cao hơn mức trung bình một năm, khả năng xảy ra thị trường giá xuống sẽ giảm xuống còn 21%.


Nói chung, các nhà giao dịch sẽ xem cả hai chỉ số PVI và NVI để hiểu xu hướng thị trường về mặt khối lượng. PVI sẽ biến động nhiều hơn khi khối lượng tăng và NVI sẽ biến động nhiều hơn khi khối lượng giảm.


Vì yếu tố chính của PVI là giá nên các nhà giao dịch sẽ thấy PVI tăng khi khối lượng giao dịch cao và giá tăng. PVI sẽ giảm khi khối lượng lớn nhưng giá lại giảm. Do đó, PVI có thể là tín hiệu cho xu hướng tăng và giảm.


Những cân nhắc đặc biệt


Niềm tin chung là những ngày có khối lượng giao dịch lớn gắn liền với đám đông. Khi PVI ở trên mức trung bình động một năm (khoảng 255 ngày giao dịch), điều đó cho thấy đám đông đang lạc quan, điều này giúp thúc đẩy giá tăng thêm. Nếu PVI giảm xuống dưới mức trung bình một năm, điều đó báo hiệu đám đông đang trở nên bi quan và giá sắp giảm hoặc đang diễn ra.


Các nhà giao dịch thường vẽ đường trung bình động (MA) 9 kỳ của PVI và so sánh nó với MA 255 kỳ của PVI. Sau đó, họ sẽ theo dõi các mối quan hệ như được mô tả ở trên. Sự giao nhau báo hiệu những thay đổi về xu hướng tiềm năng về giá. Ví dụ: nếu PVI tăng lên trên MA 255 kỳ từ bên dưới, điều đó có thể báo hiệu một xu hướng tăng mới đang diễn ra. Xu hướng tăng đó được xác nhận miễn là PVI duy trì trên mức trung bình một năm.


Hãy ghi nhớ các xác suất được đề cập ở trên. Các tín hiệu PVI không chính xác 100%. Nói chung, PVI so với MA một năm giúp xác nhận xu hướng và sự đảo chiều, nhưng không phải lúc nào nó cũng chính xác.


Một số nhà giao dịch thích NVI hơn PVI hoặc họ sử dụng chúng cùng nhau để giúp xác nhận lẫn nhau. NVI xem xét những ngày có khối lượng giao dịch thấp hơn, gắn liền với hoạt động của nhà giao dịch chuyên nghiệp chứ không phải của đám đông. Vì vậy, NVI cho thấy “tiền thông minh” đang làm gì.


Chỉ số khối lượng Tích cực (PVI) so với khối lượng cân bằng (OBV)


Khối lượng dương là cách tính giá dựa trên việc khối lượng có tăng trong phiên hiện tại so với phiên trước hay không. Khối lượng cân bằng (OBV) là tổng khối lượng dương và âm dựa trên việc giá hôm nay cao hơn hay thấp hơn giá ngày hôm qua.


Nói cách khác, cả hai chỉ báo đều tính đến khối lượng và giá, nhưng thực hiện theo những cách rất khác nhau. Do cách tính toán khác nhau, PVI và OBV sẽ cung cấp các tín hiệu và thông tin giao dịch khác nhau cho nhà giao dịch.


Hạn chế của việc sử dụng Chỉ số Khối lượng Tích cực (PVI)


PVI đang theo dõi đám đông, hoạt động của họ thường gắn liền với những ngày có khối lượng giao dịch cao hơn. Đám đông thường thua lỗ hoặc giao dịch kém hơn các nhà giao dịch chuyên nghiệp. Vì vậy, PVI đang theo dõi dòng tiền “không thông minh”. Để có tín hiệu chất lượng tốt hơn và để có bối cảnh tốt hơn về hoạt động của một thị trường hoặc cổ phiếu cụ thể, PVI được sử dụng kết hợp với NVI.


Trong các thử nghiệm lịch sử, PVI đã làm rất tốt việc làm nổi bật thị trường giá lên và giá xuống. Mặc dù nó không chính xác 100%...không có gì cả.


Chỉ báo có thể dễ bị dao động , đó là khi nhiều giao điểm xảy ra liên tiếp nhanh chóng, khiến việc xác định hướng xu hướng thực sự chỉ dựa vào chỉ báo trở nên khó khăn. PVI cũng có một số điểm bất thường. Ví dụ: nó có thể liên tục giảm xuống, ngay cả khi giá đang tăng mạnh.


Vì những lý do này, các nhà giao dịch nên sử dụng PVI cùng với phân tích hành động giá, các chỉ báo kỹ thuật khác và phân tích cơ bản nếu xem xét các cơ hội giao dịch dài hạn.



Theo Investopedia



Theo dõi tiếp các bài viết của chúng tôi tại www.finverse.vn

bottom of page