top of page

(Part 1) Short Selling/ Bán khống: Định nghĩa, Ưu điểm, Nhược điểm và Ví dụ


Short Selling, Bán khống
Short Selling, Bán khống

Bán khống/ Short Selling là gì?


Short Selling hay Bán khống là một chiến lược đầu tư hoặc giao dịch suy đoán về sự sụt giảm của giá cổ phiếu hoặc chứng khoán khác. Đó là một chiến lược tiên tiến chỉ nên được thực hiện bởi các nhà giao dịch và nhà đầu tư có kinh nghiệm.


Các nhà giao dịch có thể sử dụng hoạt động bán khống để đầu cơ và các nhà đầu tư hoặc nhà quản lý danh mục đầu tư có thể sử dụng nó như một biện pháp phòng ngừa rủi ro giảm giá của một vị thế mua đối với cùng một chứng khoán hoặc một chứng khoán có liên quan.


Đầu cơ tiềm ẩn rủi ro đáng kể và là một phương thức giao dịch tiên tiến. Phòng ngừa rủi ro là một giao dịch phổ biến hơn liên quan đến việc đặt một vị thế bù đắp để giảm thiểu rủi ro.


Trong bán khống, một vị thế được mở bằng cách vay cổ phiếu, trái phiếu hoặc tài sản khác mà nhà đầu tư tin rằng sẽ giảm giá trị. Sau đó, nhà đầu tư bán số cổ phiếu đã vay này cho những người mua sẵn sàng trả giá thị trường.


Trước khi phải trả lại cổ phiếu đã mượn, nhà giao dịch đang đặt cược rằng giá sẽ tiếp tục giảm và họ có thể mua cổ phiếu với chi phí thấp hơn. Rủi ro thua lỗ khi bán khống về mặt lý thuyết là không giới hạn vì giá của bất kỳ tài sản nào cũng có thể tăng lên đến vô cùng.


BÀI HỌC CHÍNH

  • Bán khống xảy ra khi một nhà đầu tư mượn một chứng khoán và bán nó trên thị trường mở, dự định mua lại sau đó với số tiền ít hơn.

  • Người bán khống đặt cược vào và thu lợi nhuận từ việc giảm giá chứng khoán. Điều này có thể trái ngược với những nhà đầu tư mua dài hạn muốn giá tăng.

  • Bán khống có tỷ lệ rủi ro/lợi nhuận cao : Nó có thể mang lại lợi nhuận lớn, nhưng tổn thất có thể tăng lên nhanh chóng và vô tận do lệnh gọi ký quỹ.

Hiểu về bán khống


Với việc bán khống, người bán mở một vị thế bán khống bằng cách mượn cổ phiếu, thường là từ một đại lý môi giới, với hy vọng mua lại để kiếm lời nếu giá giảm. Cổ phiếu phải được mượn vì bạn không thể bán cổ phiếu không tồn tại.


Để đóng một vị thế bán, nhà giao dịch mua lại cổ phiếu trên thị trường—hy vọng ở mức giá thấp hơn mức giá họ đã vay tài sản—và trả lại cho người cho vay hoặc nhà môi giới. Nhà giao dịch phải tính đến mọi khoản lãi do nhà môi giới tính hoặc hoa hồng tính trên giao dịch.


Để mở một vị thế bán, nhà giao dịch phải có tài khoản ký quỹ và thường sẽ phải trả lãi cho giá trị của số cổ phiếu đã vay trong khi vị thế đó được mở.


Ngoài ra, Cơ quan quản lý ngành tài chính (FINRA), cơ quan thực thi các quy tắc và quy định quản lý các công ty môi giới và đại lý môi giới đã đăng ký tại Hoa Kỳ, Sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE) và Cục Dự trữ Liên bang đã đặt ra các giá trị tối thiểu cho số tiền, mà tài khoản ký quỹ phải duy trì—được gọi là ký quỹ duy trì. Nếu giá trị tài khoản của nhà đầu tư giảm xuống dưới mức ký quỹ duy trì thì cần phải có nhiều tiền hơn hoặc vị thế có thể bị bán bởi nhà môi giới.


Quá trình xác định vị trí các cổ phiếu có thể vay và trả lại khi kết thúc giao dịch được nhà môi giới xử lý một cách bí mật. Việc mở và đóng giao dịch có thể được thực hiện thông qua các nền tảng giao dịch thông thường với hầu hết các nhà môi giới. Tuy nhiên, mỗi nhà môi giới sẽ có những tiêu chuẩn mà tài khoản giao dịch phải đáp ứng trước khi họ cho phép giao dịch ký quỹ.


Tại sao bán khống?


Những lý do phổ biến nhất để tham gia bán khống là đầu cơ và phòng ngừa rủi ro. Một nhà đầu cơ đang đặt cược giá thuần túy rằng nó sẽ giảm trong tương lai. Nếu sai, họ sẽ phải mua lại cổ phiếu với giá cao hơn và thua lỗ. Do những rủi ro bổ sung trong việc bán khống do sử dụng ký quỹ nên nó thường được tiến hành trong một khoảng thời gian nhỏ hơn và do đó có nhiều khả năng là một hoạt động được tiến hành để đầu cơ.


Mọi người cũng có thể bán khống để phòng ngừa vị thế mua. Ví dụ: nếu bạn sở hữu quyền chọn mua (là các vị thế mua), bạn có thể muốn bán khống vị thế đó để chốt lợi nhuận. Hoặc, nếu bạn muốn hạn chế tổn thất giảm giá mà không thực sự thoát khỏi vị thế mua cổ phiếu, bạn có thể bán khống một cổ phiếu có liên quan chặt chẽ hoặc có mối tương quan cao với nó.


Ví dụ về bán khống để kiếm lợi nhuận


Hãy tưởng tượng một nhà giao dịch tin rằng cổ phiếu XYZ – hiện đang giao dịch ở mức giá 50 USD – sẽ giảm giá trong ba tháng tới. Họ mượn 100 cổ phiếu và bán chúng cho nhà đầu tư khác.


Nhà giao dịch hiện đang “bán khống” 100 cổ phiếu vì họ đã bán thứ mà họ không sở hữu mà đã đi mượn. Việc bán khống chỉ được thực hiện bằng cách mượn cổ phiếu, điều này có thể không phải lúc nào cũng có sẵn nếu cổ phiếu đã bị các nhà giao dịch khác bán khống nhiều.


Một tuần sau, công ty có cổ phiếu bị bán khống báo cáo kết quả tài chính ảm đạm trong quý và cổ phiếu giảm xuống còn 40 USD. Nhà giao dịch quyết định đóng vị thế bán và mua 100 cổ phiếu với giá 40 USD trên thị trường mở để thay thế số cổ phiếu đã vay.


Lợi nhuận của nhà giao dịch khi bán khống, không bao gồm hoa hồng và tiền lãi trên tài khoản ký quỹ, là 1.000 USD (50 USD - 40 USD = 10 USD × 100 cổ phiếu = 1.000 USD).


Ví dụ về bán khống để thua lỗ


Sử dụng kịch bản ở trên, bây giờ giả sử nhà giao dịch không đóng vị thế bán ở mức 40 USD mà quyết định để nó mở để tận dụng sự sụt giảm giá tiếp theo. Tuy nhiên, một đối thủ cạnh tranh đã lao vào mua lại công ty với lời đề nghị tiếp quản là 65 USD/cổ phiếu và giá cổ phiếu tăng vọt.


Nếu nhà giao dịch quyết định đóng vị thế bán ở mức 65 USD, khoản lỗ khi bán khống sẽ là 1.500 USD (50 USD - 65 USD = âm 15 USD × 100 cổ phiếu = lỗ 1.500 USD). Tại đây, người giao dịch phải mua lại cổ phiếu với giá cao hơn đáng kể để đảm bảo vị thế của mình.


Ví dụ về bán khống như một biện pháp phòng hộ


Ngoài đầu cơ, bán khống còn có một mục đích hữu ích khác - phòng ngừa rủi ro - thường được coi là hình thức bán khống có rủi ro thấp hơn và đáng kính hơn. Mục tiêu chính của phòng ngừa rủi ro là bảo vệ, trái ngược với động cơ lợi nhuận thuần túy của hoạt động đầu cơ.


Phòng ngừa rủi ro được thực hiện để bảo vệ lợi nhuận hoặc giảm thiểu tổn thất trong danh mục đầu tư, nhưng vì nó có chi phí đáng kể nên đại đa số các nhà đầu tư bán lẻ không xem xét nó trong thời gian bình thường.


Chi phí phòng ngừa rủi ro là gấp đôi. Có chi phí thực tế của việc phòng ngừa rủi ro, chẳng hạn như chi phí liên quan đến bán khống hoặc phí bảo hiểm phải trả cho các hợp đồng quyền chọn bảo vệ.


Ngoài ra, còn có chi phí cơ hội để hạn chế mức tăng giá của danh mục đầu tư nếu thị trường tiếp tục tăng cao. Một ví dụ đơn giản, nếu 50% danh mục đầu tư có mối tương quan chặt chẽ với Chỉ số Standard & Poor's 500 (S&P 500) được phòng ngừa rủi ro và chỉ số này tăng 15% trong 12 tháng tới, danh mục đầu tư sẽ chỉ ghi nhận khoảng một nửa của mức tăng đó, hoặc 7,5%.



Theo Investopedia


Theo dõi tiếp các bài viết của chúng tôi tại www.finverse.vn




Comments


bottom of page